Sunday, June 25, 2017

Những bài học lịch sử mà ta học được từ cuộc Thảm Sát 4 Tháng Sáu năm 1989

- Ngụy Kinh Sinh (Wei Jingsheng)
Lê Minh Nguyên dịch

Đã 28 năm qua từ cuộc Thảm Sát 4 Tháng Sáu. Máu Holocaust vẫn còn sống động với các nhân chứng. Độc tài ở Đông Âu và Liên Sô đã qua, nhưng tại sao chúng ta người dân Trung Quốc vẫn còn nằm dưới sự đàn áp của độc tài? Đối với nhiều người, đây là một điều vô lý. Nhưng nằm phía dưới bề mặt của sự vô lý này, phải có lý do sâu thẳm cho chúng ta thấu hiểu và suy nghĩ về nó.

Từ những cuộc tập hợp lớn (vào mùa Xuân năm 1989) để tuởng niệm ông Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang), các cuộc biểu tình bắt đầu nở rộ ra trên khắp Trung Quốc. Không chỉ sinh viên, mà cả người lao động và thường dân cũng đã dần dần nhập cuộc đi vào dòng chính phản đối, thậm chí còn bao gồm tất cả đảng viên các cấp của Đảng CS lãnh đạo trừ Ủy Ban Trung Ương Đảng CSTQ. Thật ra đó là thời điểm mà tất cả mọi người nghĩ là cần phải thay đổi và đã cố gắng cùng nhau làm việc đó để nó xảy ra. Dưới một áp lực vĩ đại từ công chúng như vậy, cho dù chính quyền của "Đội Quân Bắc Dương" (Đội Quân Triều Đình TQ hùng mạnh theo kiểu Tây Phương, ban đầu do Nhà Thanh thành lập vào cuối thế kỷ 19), được xây dựng lên bằng nòng súng, cũng không thể đứng vững và phải thỏa hiệp, lùi bước truớc nhân dân; tựa như sự sụp đổ của chế độ độc tài Tunisia và các Đảng CS ở Liên Sô và Đông Âu. Tại sao TQ lại không? Chúng ta cần xem xét lại khung cảnh khi đó.

Năm 1989 đã có chứng cớ về sự vắng mặt của một số trí thức tầm cao, những người mà sinh viên và quần chúng coi như là khối óc (mentors) và lãnh đạo. Đã vậy, còn có những trí thức không ra khỏi nhà và cho rằng: tôi chỉ chịu trách nhiệm huy động quần chúng; hoặc thậm chí còn nói rằng: trách nhiệm của tôi là cung cấp ý tưởng, chứ không phải để cho phong trào chính trị. Một số khác đơn giản là bỏ đi ra khỏi thành phố. Những hành động này có thể là tiền đề cho việc an ninh lâu nay đẩy những người bất đồng chính kiến đi du lịch và uống trà để hầu đạt được các mục đích của họ.

Cái mà tất cả chúng ta thấy là những sinh viên ở Thiên An Môn hết sức thiếu kinh nghiệm và xa rời thực tế. Sao họ lại đi giao nộp 3 người làm hư hại bức chân dung Mao Trạch Đông cho an ninh? Họ có phân biệt được bạn và thù hay không? Hành động này chứng tỏ rằng những nhà lãnh đạo phong trào thực ra là những em trẻ không có kinh nghiệm, cũng không có đầu óc. Nói một cách giản dị, lúc đó không có ai lãnh đạo hoặc không có một nhà lãnh đạo khả dĩ.

Không có nguời lãnh đạo, hoặc không có nhà lãnh đạo sâu sắc, kinh nghiệm và có năng lực tối thiểu. Sự thiếu sót này là một trong những lý do chính tại sao phong trào quần chúng rộng lớn như vậy lại đi đến thất bại. Một phong trào chính trị nghiêm chỉnh giống như một con tàu đi trên biển cả, và phải có một thuyền trưởng. Nó chỉ tốt nhất khi có một thuyền truởng kinh nghiệm với ý chí dẫn dắt tất cả mọi người đi đến bến bờ đã định. Nếu không có thuyền trưởng, hoặc có hai hay nhiều thuyền trưởng, khả năng lật tàu sẽ được nhân cao lên. Như tục ngữ nhân gian có câu: căn nhà sẽ không được ngăn nắp xây ra nếu có quá nhiều thợ mộc chỉ huy.

Lịch sử đã chứng minh, bất kỳ cuộc cách mạng thành công nào trong việc lật đổ chế độ hay thay đổi triều đại, nó chỉ thành công khi có áp lực từ hai hoặc thậm chí ba phía. Đầu tiên là sự tích lũy các mâu thuẩn xã hội qua nhiều năm, khi ý chí phản loạn của dân chúng cứ tăng dần rồi vượt qua giới hạn của cái trật tự có thể chịu đựng được. Cái áp lực đó được người dân Trung Quốc cổ thời gọi là ý dân (the usable power of the people). Áp lực thứ hai là sự chia rẽ trong hàng ngũ giai cấp cầm quyền, khi những mâu thuẩn nội bộ đã hết sức trầm trọng không thể nào hàn gắn được. Đôi khi có thêm một áp lực thứ ba; tức áp lực bên ngoài tham gia vào, chẳng hạn như năm 1644 khi giới Quan lại (Mandarins) ở mạng đông-bắc TQ tiến về nam đưa đến việc kết thúc sự cai trị của nhà Minh.

Năm 1989, áp lực thứ nhất về mâu thuẩn xã hội, nó đã không tích lũy được đầy đủ sự mạnh mẽ cần thiết, và các mục tiêu để nhân dân vùng dậy đã không đủ rõ ràng. Đôi khi chúng ta thấy các khẩu hiệu đòi dân chủ, tự do, và chấm dứt chế độ độc tài. Tuy nhiên, đại đa số các khẩu hiệu đều có mục tiêu cải tổ, chẳng hạn như "hỗ trợ Đảng cộng sản chống các viên chức làm kinh doanh"; "chúng tôi muốn các viên chức trong sạch, không phải những nguời tham nhũng"; và tương tự. Tôi không biết ai đã cố ý đánh lừa những sinh viên chiếm Thiên An Môn để cho các sinh viên này nghĩ rằng nếu họ thành công trong việc chấm dứt vấn nạn "các viên chức chính quyền lãnh đạo doanh nghiệp" thì họ sẽ làm nên lịch sử và thậm chí trở thành các nhà lãnh đạo của TQ. Có những khẩu hiệu "xóa bỏ chế độ độc tài" nhưng đã bị gỡ bỏ nhanh chóng bởi nhóm lo về biểu ngữ, trong nỗ lực để duy trì cái gọi là "sự trong sáng của sinh viên". Những hành động này cho thấy rằng quần chúng vẫn còn tương đối yếu, và ý chí chống đối của họ chưa đủ cao. Vì thế, cho dù khi có một số người đã cố gắng động viên họ, nhưng cũng đã không đạt được mức độ như ở Liên Sô và Đông Âu. Cho nên sự thất bại ở TQ năm 1989 không phải tình cờ, mà là không thể tránh khỏi.

Áp lực thứ hai về mâu thuẫn trầm trọng trong nội bộ của các giai cấp thượng tầng thì nó đã đến mức tột cùng cho sự thay đổi. Như ông Bào Đồng (Bao Tong) chỉ ra cho Thủ Tuớng Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang) lúc đó: Đây là cuộc tranh đấu sinh tử, vì thế không nên xử lý mềm mỏng được. Nhưng những người được gọi là các nhà cải cách dẫn đầu bởi ông Triệu đã trốn tránh trách nhiệm, không sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm cho một cuộc cách mạng để lật đổ sự lãnh đạo của Đảng CS. Họ không sẵn sàng để lật đổ chế độ độc tài độc đảng như đã xảy ra ở Liên Sô và Đông Âu, thay vào đó họ đã để cho những sinh viên vô tội và dân chúng bị đổ máu, bị hy sinh tính mạng. Đây không phả là một lý do tình cờ, mà đây là lý do chính yếu.

Áp lực thứ ba mặc dù không cần thiết, nhưng cũng rất quan trọng. Trong lịch sử, không phải cuộc cách mạng nào cũng cần có ngoại lực tham gia, nhưng đôi khi sự can thiệp của ngoại lực là yếu tố then chốt để giành chiến thắng. Thí dụ như trong cuộc chiến tranh giành độc lập của Hoa Kỳ, nếu không có sự giúp đỡ của quân đội Pháp thì đã không thể chiến thắng được, với một đám dân quân thiếu huấn luyện để có thể đè bẹp được đội quân chính quy được huấn luyện và trang bị chuyên nghiệp của Anh.

Nhưng năm 1989 ở Bắc Kinh, mặc dù chúng ta cảm nhận được sự hỗ trợ của nhân dân khắp thế giới, nhưng chúng ta không cảm nhận được cái áp lực và sự gắn kết từ các phía dân chủ. Điều này rất khác so với tình hình của Liên Sô và Đông Âu. Ngay cả Tổng thống HK George H. Bush cũng đã vội vàng thay vị đại sứ thân phong trào dân chủ, và tuyên bố rằng ông sẽ không can thiệp vào "công việc nội bộ" của TQ. Những tín hiệu sai lầm này đã trở thành yếu tố then chốt và quyết định trong việc phe nhóm Đặng Tiểu Bình cương quyết thảm sát nhân dân.

Một số các nhà bình luận cực đoan hơn cho rằng việc sẵn sàng để giúp các cuộc cách mạng ở Liên Sô và Đông Âu nhưng không giúp cho cách mạng ở TQ là do chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc của nguời da trắng. Tôi nghĩ rằng cáo buộc này không công bằng và không chỉ ra được cái nguyên nhân chính của vấn đề. Vì cho dù sau đó, từ những năm 1980's (đến nay), Hoa Kỳ đã không quan tâm đến phong trào dân chủ TQ. Đó là vì quyền lợi quá lớn của các công ty Mỹ ở TQ.

Chế độ CSTQ đã tuyên truyền rằng nếu Đảng CS sụp đổ sẽ gây ra chiến tranh hỗn loạn giữa các lãnh chúa ở TQ, và trật tự sẽ không được vãn hồi trong nhiều năm. Những sự hỗn loạn này là điều mà giới kinh doanh trong nước lẫn hải ngoại không muốn thấy. Làm cho có thêm lợi nhuận dưới sự bảo vệ của một chế độ độc tài sẽ làm cho các doanh nhân vui mừng và quên đi lương tâm của họ. Cái băng đảng gồm những người da đen, da trắng, da vàng này không quan tâm đến lý tưởng của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc, mà chỉ muốn kiếm được nhiều đồng tiền bẩn và vì vậy từ bỏ lương tâm của họ. Kết quả này cũng là một nhu cầu lịch sử chứ không phải là một điều gì kỳ lạ. Thật không may, năm 1989, không có nhà lãnh đạo để nói với các sinh viên và dân chúng nên làm thế nào để tránh hoặc đi vòng qua cái điều hiển nhiên này.

Giờ đây, sau 28 năm tích lũy, có thể nói rằng thời gian đã khác, và với tất cả các điều kiện ngày càng trở nên đầy đủ hơn so với trước đây. Sự khác biệt lớn nhất là sau vụ thảm sát đẫm máu do chế độ CS gây ra, nhân dân TQ đã nhanh chóng sáng mắt và thấy được bản chất của Đảng CS. Dân chúng sẽ cuơng quyết hơn để tiến tới, với mục đích rõ ràng cho một hệ thống chính trị dân chủ. Có thể nói rằng các điều kiện của một cuộc cách mạng ở TQ đã trưởng thành hơn so với năm 1989.

http://bit.ly/2sbu6me













Thursday, March 2, 2017

Vĩnh biệt Đại Tá Quân Lực VNCH NGUYỄN CÔNG VĨNH

Anh Nguyễn Công Vĩnh là một chiến sĩ hào hùng của quân lực Việt Nam Cộng Hoà.

Trong trận Bình Long, anh là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Anh đã cùng các đồng đội tại Lộc Ninh chiến đấu anh dũng, đẩy lui nhiều đợt tấn công của đại binh CS Bắc Việt có chiến xa và đại pháo yểm trợ cho đến khi bị CS bắt vào đầu tháng Tư 1972.

Anh được CS trao trả vào tháng Ba 1973, cũng tại Bình Long. Trong 11 tháng bị giam cầm, anh bị CS ngược đãi đến độ phải ngồi xe lăn khi phía VNCH nhận anh về.

Anh Vĩnh bắt đầu cuộc đời binh nghiệp khi tham gia Khóa 5 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh đảm nhiệm các chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 48 Sư Đoàn 18, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9 Sư Đoàn 5, Quân Trấn Trưởng Biệt Khu Thủ Đô Sài Gòn và được trao tặng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

Anh Vĩnh sinh ngày 30/3/1928 tại Long An, tốt nghiệp truờng trung học Huỳnh Khương Ninh ở Đồng Nai năm 1948. Cũng trong năm này, anh gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng và trở thành đảng viên Tân Đại Việt năm 1964. Anh cũng là thành viên của Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn, một tổ chức ngoại vi của Xứ Bộ Miền Nam Đại Việt Quốc Dân Đảng.

Sau khi Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn bị Thủ tướng Trần Văn Hữu giải tán, năm 1951 anh Vĩnh và một số đồng chí Đại Việt gia nhập vào trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, Khoá 5 Hoàng Diệu. Anh ra trường năm 1952 với cấp bậc Thiếu Úy, phục vụ ở Tiểu đoàn 3 Sơn Cước, Ban Mê Thuột. Năm 1955 với cấp bậc Đại Úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Sơn Cước, anh được đi du học trường Bộ Binh Fort Benning ở tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Về nước, năm 1956 anh làm Huấn Luyện Viên Trường Bộ Binh Thủ Đức.

Kể từ năm 1963, anh phục vụ các đơn vị tác chiến của Sư đoàn 1 Bộ Binh, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 48 thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh với cấp bậc Đại tá.

Năm 1969 anh là Phụ tá Thanh tra Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III. Năm 1970 anh là Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

Năm 1972 anh bị CS bắt ở Lộc Ninh. Năm 1973 anh được trao trả tù binh ở Lộc Ninh trong tình trạng sức khoẻ tồi tệ và sau đó điều dưỡng 3 tháng ở Tổng Y Viện Cộng Hoà. Năm 1973, anh làm Quân trấn trưởng Quân Vụ Thị Trấn Saigòn-Gia Định cho đến khi VNCH sụp đổ năm 1975.

Anh bị đi tù cải tạo 13 năm, từ 1975 cho đến 1988 qua các trại tù Long Giao, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Thanh Phong, Hà Nam Ninh.

Năm 1993 anh và gia đình đi định cư theo diện HO ở Oakland, Bắc California, Hoa Kỳ và sau này dọn về Costa Mesa, Nam California.

Anh Vĩnh phục vụ 24 năm trong Quân Lực VNCH, anh là một sĩ quan thanh liêm, đạo đức và khí phách, được quân nhân thuộc cấp kính mến. Trong lúc bị bắt làm tù binh, anh vẫn giữ đúng tư cách và danh dự của một sĩ quan QLVNCH.

Qua câu chuyện anh kể lại khi bị CS bắt làm tù binh năm 1972, tù binh bị nhốt ở Cam Bốt. Trong số khoảng 100 tù binh VNCH, CS chiêu dụ là nếu tù binh nào chịu phục tùng theo họ thì sẽ được tăng khẩu phần ăn. Có đến 72 người không khuất phục và chấp nhận chịu đói. CS phát mỗi ngày một người được một nắm cơm và muối, nhưng tiêu chuẩn muối là một muỗng cà phê chia đều cho 72 người. Nếu ai chấm vô trước thì muối sẽ mau hết vì vậy không được chấm mà phải gỏ “cộp, cộp” cho muối rớt từng chút ra khỏi muỗng. Từ đó mới có giai thoại ăn cơm với “thịt cọp”(nhái theo âm "cộp” gỏ muỗng).

Sau khi trao đổi tù nhân anh được thả về và viết hồi ký “Người Về Từ Cỏi Chết”, được Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị chấm giải nhất với số tiền thưởng là $25.000 đồng.

Sau ngày 30/4/1975, anh bị đi tù CS lần thứ hai. Trong tù, cán bộ CS kết tội anh một cách gay gắt rằng: Vào năm 1973 lúc trao trả tù binh, anh có cam kết về nhà lo làm ăn không đánh phá cách mạng nữa, nhưng sao anh vẫn tiếp tục đánh phá cách mạng, chống lại nhân dân?

Anh khí khái trả lời: Đúng! Vì lúc trao trả tù binh chiếu theo hiệp định hòa bình là sẽ không còn chiến tranh, nên tôi mới hứa không chiến đấu nữa, nhưng sau đó các ông đã vi phạm hiệp định hòa bình và với tư cách một quân nhân tôi phải bảo vệ mảnh đất miền Nam.

Trong 69 năm gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng và sau này là Đảng Tân Đại Việt, anh Vĩnh có bí danh là Vân, luôn là một đảng viên liêm chính và tận tụy với đoàn thể. Anh lúc nào cũng làm gương tốt cho các đảng viên trẻ và tiên phong trong mọi công tác mà Đảng giao phó. Anh là Đệ II Phó Chủ Tịch của Biệt Bộ Bùi Hữu Phiệt, một biệt bộ nhà binh của Đảng Tân Đại Việt trong thời VNCH. Anh lo phát triển cơ sở, kết nạp đảng viên cho biệt bộ. Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, tuy lớn tuổi và sức khỏe suy giảm nhưng anh vẫn sinh hoạt đều đặn với anh em Tân Đại Việt.

Trong trận Bình Long, chiều ngày 6/4/1972, CS tấn công phá hủy sân bay Quản Lợi, đồng thời cắt đứt tuyến tiếp viện của An Lộc. Sư đoàn 9 của CS điều các trung đoàn 1 và 2 của họ cắt đứt đường 13 ở đoạn Lộc Hưng và Thanh Khương, chiếm cầu Cần Lê, cô lập hoàn toàn cụm cứ điểm Lộc Ninh với An Lộc (Bình Long). Đại tá Nguyễn Công Vĩnh, chỉ huy Trung đoàn 9, điều 2 tiểu đoàn bộ binh và thiết đoàn 1 thiết giáp đang phòng ngự căn cứ Hoa Lư (tiền đồn ở Bắc Lộc Ninh) về ứng cứu, và bị rơi vào trận địa phục kích của Sư đoàn 5 CS.

Chiều ngày 7/4/1972, CS tổng lực tấn công vào chi khu Lộc Ninh, chiếm chi khu Lộc Ninh. Đại tá Vĩnh, Trung tá Nguyễn Văn Thông Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 53 Pháo Binh, Trung Tá Nguyễn Đức Dương chỉ huy thiết đoàn 1, và Thiếu tá Đặng Văn Sơn đều bị bắt làm tù binh. Lúc đó phía VNCH được báo cáo là các anh bị mất tích, khi chiến xa của VC tràn ngập bộ chỉ huy tại Lộc Ninh.

Thói thuờng, khi CS bắt được các sĩ quan VNCH cấp chỉ huy, thường hay bắt họ lên tiếng trên Đài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để làm lung lạc tinh thần chiến đấu của Quân Đội VNCH, nên hôm sau CS đã làm như vậy, qua đó phía VNCH biết các anh vẫn còn sống và đã bị bắt làm tù binh.

Sau khi Hiệp Định Paris ký kết xong, việc trao trả tù binh cũng rất khó khăn. CS không muốn trao trả các sĩ quan cao cấp, họ để tới gần hết thời hạn mà cũng không chịu giao Đại Tá Vĩnh, Trung tá Dương, Thiếu tá Sơn và Trung Tá Thông, CS cứ hứa nhưng không trao. Vào lúc nầy tình trạng sức khỏe các anh đều rất yếu.

Trong cuộc trao đổi tù binh năm 1973, có thể nói là anh được anh em "cướp xác" mà trong đó có một đồng chí Tân Đại Việt của anh là Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa đã lập kế để cướp anh về vì CS đã nhiều lần ghi tên anh trong danh sách trao trả nhưng không lần nào chịu giao.

Vì thế, phía VNCH phải tìm cách cướp tù binh, nên chọn một số quân nhân thật khỏe mạnh đứng sẵn chờ đợi gần lằn ranh trao trả. Phía VNCH yêu cầu bên CS phải cho thấy tận mắt những sĩ quan kể trên còn sống thì mới tin và yêu cầu CS phải mang họ ra gần nơi trao trả mới tin được. Khi CS mang các sĩ quan kể trên ra trình diện thì bên phía VNCH nhảy qua cướp tù, nhờ vậy mới giải thoát được những sĩ quan kể trên. Lúc bấy giờ Đại Tá Vĩnh và các anh khác rất yếu, đi không nổi phải khiêng bằng băng ca.

Sau một thời gian dưỡng bệnh và làm rõ ràng thủ tục an ninh, Đại tá Vĩnh về làm Quân Vụ Trưởng Quân Vụ Thị Trấn tại Sài Gòn.

CS sau 7 lần tấn công nhưng không chiếm được An Lộc, chuyển sang bao vây lỏng. Quân Lực VNCH dần dần chuyển từ thế thủ sang thế công, giải toả được vòng vây.

Anh Nguyễn Công Vĩnh đã vĩnh biệt cõi đời chiều ngày Thứ Năm 23/2/2017 tại Bịnh viện HOAG ở Newport Beach, Nam California, hưởng thọ 90 tuổi.

Pháp danh của anh là Nhật Chí Dũng. Tang lễ sẽ cử hành vào ngày Thứ Bảy 11/3/2017 tại Pacific View Memorial Park and Mortuary, 3500 Pacific View Dr, Corona Del Mar, CA 92625, phone (949) 644-2700.

Xin cầu nguyện cho linh hồn anh sớm tiêu diêu nơi Cõi Niết Bàn và xin chia buồn cùng gia đình anh.

Chúng tôi, những đồng chí của các thế hệ đi sau, cam kết tiếp nối công trình mà những bậc đàn anh đã dấn thân nhưng còn dang dỡ, đó là quyết tâm xây dựng Dân Chủ Pháp Trị cho Việt Nam.

Xin anh hãy Nghìn Thu Yên Giấc!

Lê Minh Nguyên và các đồng chí của anh
2/3/2017



























Thursday, February 23, 2017

Cái Đuôi Vẫy Con Chó (Wag the Dog)

Phim Mỹ năm 1997, trình chiếu một tháng trước vụ TT Bill Clinton dội bom xưỡng bào chế thuốc Al-Shifa ở Sudan khi tai tiếng ông và Monica Lewinsky lên cao điểm.

Câu chuyện trong phim Cái Đuôi Vẫy Con Chó như sau:

Tổng thống Mỹ bị bắt vì tội dụ dỗ gái vị thành niên, chưa đầy hai tuần trước cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2.

Ông Conrad Brean (do Robert De Niro thủ vai) là phù thuỷ chính trị ở thủ đô, được nhờ ra tay để hướng dư luận quần chúng về phía khác, mà không chú ý đến vụ bê bối. Ông quyết định tạo ra chiến tranh với Albania, hy vọng giới truyền thông sẽ tập trung vào việc này. Ông liên lạc nhà sản xuất phim ảnh Stanley Motss (Dustin Hoffman) ở Hollywood để tạo ra chiến tranh, như cho ra bài hát chủ đề và cảnh phim giả về trẻ mồ côi ở Albania.

Khi CIA biết được âm mưu, họ gửi nhân viên đến gặp Brean, Brean thuyết phục nhân viên CIA rằng nếu tiết lộ sự lừa dối này tức là đi ngược lại lợi ích của anh ta. CIA công bố chiến tranh đã kết thúc, nhưng duy trì sự dối trá, và giới truyền thông bắt đầu quay trở lại với vụ bê bối lạm dụng tình dục của Tổng thống.

Motss quyết định sáng tạo ra một anh hùng bị bỏ lại phía sau lưng kẻ thù, cho rằng nguời anh hùng này Lầu Năm Góc cho biết có tên là Schumann và bị "bỏ đi như một chiếc giày cũ". Ông xây dựng một câu chuyện xung quanh người anh hùng này, in áo T-shirts mang chủ đề, bổ sung thêm các bài hát yêu nước, và tổ chức các cuộc biểu tình thể hiện lòng yêu nước.

Khi toán đặc nhiệm đi tìm Schumann, họ phát hiện ra trong thực tế Schumann là một quân nhân điên rồ, bị kết án tù hình sự trước khi máy bay của nhóm quân nhân bị rớt trên đường đến Andrews Air Force Base. Nhóm này sống sót và được cứu bởi một người nông dân, nhưng Schumann tìm cách hãm hiếp con gái của nông dân và ông nông dân giết hắn. Motss làm một tang lễ quân sự lớn, tuyên bố Schumann đã chết do bị thương trong quá trình giải cứu.

Khi xem một chương trình đối thoại chính trị trên tivi, Motss thất vọng khi thấy giới truyền thông ghi công chiến thắng của Tổng thống là nhờ khẩu hiệu của chiến dịch vận động tranh cử "Không đổi ngựa giữa dòng" chứ không phải là công việc khó khăn của Motss. Mặc dù trước đó Motss đã tuyên bố rằng ông làm việc này vì cảm hứng của những thách thức, nhưng bây giờ Motss muốn giành công cho mình và tuyên bố rằng ông sẽ tiết lộ, bất chấp cảnh báo của Brean rằng Motss đang "đùa với mạng sống của ông". Motss không chấp nhận, vì vậy Brean miễn cưỡng giết Motss và làm nó giống như thể ông chết vì đau tim.

Tổng thống được tái đắc cử và tin tức về chiến tranh ở Albania được chiếu trên tivi, nhưng mập mờ không cho biết nó là thật sự hay chỉ đơn giản là một sự tiếp nối của cuộc chiến tranh hư cấu.

Câu hỏi được đặt ra cho những ai đã đọc đến đây:

Liệu với Russiangate, với emoluments (Điều 25 Hiến Pháp không được trục lợi khi tại vị) và với những khó khăn lớn và dồn dập khác đang bao vây, TT Trump sẽ ra tay "cái đuôi vẫy con chó" gây chiến với Bắc Hàn hoặc Trung Quốc hoặc Iran hay không?

Lê Minh Nguyên
22/2/2017















Sunday, February 12, 2017

Sự thoái hóa hệ thống pháp luật ở Trung Quốc

- Nguỵ Kinh Sinh
Lê Minh Nguyên dịch

Gần đây chúng ta nghe nói về một điều vô lý nhất ở Trung Quốc, đó là Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn thực hiện việc hợp nhất Đảng Cộng Sản (ĐCS) và nhà nước lại với nhau. Họ chọn cách tiếp cận gần như giống hệt Hồi Giáo chính thống (Islamic fundamentalism): bắt đầu bằng việc sáp nhập ngành tư pháp vào tôn giáo. Khi họ hợp nhất hai lãnh vực này với nhau, bước hợp lý kế tiếp sẽ là sự thống nhất lãnh đạo của ĐCS, giống như những gì đã xảy ra trong thời Cách Mạng Văn Hoá. Đây là những gì mà bạn bè chúng ta trong cũng như ngoài Trung Quốc đang nói về, nó là sự thoái hóa và trở về thời Cách Mạng Văn Hóa ở TQ.

Những gì đã bị hầu hết mọi nguời chỉ trích về việc thống nhất nhà nước và tôn giáo ở châu Âu thời Trung cổ là các tòa án tôn giáo. Đó là việc coi giáo lý của tôn giáo như là luật, để quyết định sự sống chết của người dân. Tập Cận Bình dĩ nhiên là không đủ thông minh để sáng tạo ra một lý thuyết tôn giáo, nên thay vào đó, ông quyết định sử dụng lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lê-Mao như là giáo lý của ông ta, bằng cách kết hợp Uỷ Ban Kiểm Tra Kỹ Luật của ĐCS với cơ quan tư pháp chính thức của đất nước. Với hai nhãn hiệu này gom vào chung một cơ quan, ông đã thực hiện sự thống nhất nhà nước và tôn giáo.

Tham nhũng đã xuất hiện sớm hơn cả cái hệ thống triều đình quan liêu mà TQ sáng tạo ra. Nó đã là vấn đề xã hội đau đầu từ khi có chính quyền trong lịch sử TQ: như triều đại Nhà Hạ (Xia Dynasty) thành lập bởi con trai của Đại Vũ (Yu the Great) nổi tiếng về thuật trị thuỷ. Tham nhũng đã dẫn đến sự đau khổ của người dân, là lý do quan trọng làm phân rã xã hội.

Kể từ thời cổ đại, tất cả các xã hội đã tìm cách chống tham nhũng. Đặc biệt là sau khi thành lập những cơ quan hành chánh chống tham nhũng thì càng ngày càng phát triển những luật lệ phức tạp hơn, và ngày càng trở nên chặt chẽ hơn. Mặc dù không có cơ quan nào trong số đó đã rất thành công, nhưng đã có một số pháp luật cơ bản và các nguyên tắc để noi theo. Một trong những điều quan trọng nhất là chính những nhân vật và cơ quan giám sát tham nhũng cũng phải được giám sát. Vì thế, các cơ quan chống tham nhũng chồng chéo lẫn nhau, hầu tránh xảy ra là có các nơi không bị sự giám sát.

Tại sao nỗ lực chống tham nhũng trong thời cổ đại đã kinh qua rất nhiều thăng trầm, mà lại có hiệu quả rất kém? Lý do cơ bản là mặc dù cơ chế giám sát tuy khá hoàn hảo, thậm chí còn tốt hơn so với các cơ chế hiện đại, nhưng bộ máy chính quyền lại bị thu về một mối, bất kể là vào tay ai. Vì họ trộn lẫn nhau trong cùng một quan trường và gặp gỡ nhau thường xuyên, nên không thể tránh khỏi là các quan chức bảo vệ cho nhau và lợi dụng lẫn nhau.

Nên chỉ khi có nền dân chủ hiện đại thì mới có thể cung cấp khả năng chống tham nhũng hiệu quả. Nó phân chia những trung tâm quyền lực chính thức ra thành các đảng khác nhau, cho phép họ cạnh tranh với nhau, và việc chống tham nhũng trở thành một yếu tố quan trọng của sự cạnh tranh. Các chính trị gia đều là những đồng nghiệp và họ biết nhau rất rõ. Họ rất dễ dàng để đánh lừa người dân bình thường bên ngoài, nhưng hầu như không thể đánh lừa những thành viên của đảng đối lập, vì cũng là những nguời chuyên nghiệp.

Thoạt nghe qua có vẻ như là nó được thiết kế để các đảng phái đánh nhau v.v.., nên không được đạo đức lắm. Nhưng nó có thể làm cho xã hội được hưởng lợi từ việc này và tránh được quyền lực của tham nhũng, nên nó rất đạo đức. Vì thế, mặc dù các hệ thống dân chủ không đặc biệt phức tạp trong việc hình thành những cơ quan chống tham nhũng, nhưng nó vẫn có thể ngăn chặn hiện tuợng tham nhũng xuống đến mức tối thiểu, và gần như là loại bỏ nó. Điều này không thể làm được với tham nhũng sâu rộng trong chế độ độc tài.

Vì vậy, mặc dù hệ thống dân chủ nhìn qua có vẻ hỗn loạn, với những gấu ó lan toả vào không gian trong khi bầu cử, giống như ngạn ngữ Trung Quốc có câu "nghêu cò tranh nhau ngư ông đắc lợi", xã hội và người dân hưởng lợi từ các cuộc tranh đua này. Tại sao không? Có gì là sai trong việc ngăn chặn sự nhức đầu vì tham nhũng? Trong thực tế, thuật trị quốc của cái gọi là những nhà cai trị khôn ngoan TQ cổ đại là phân chia các quan chức thành nhiều phe phái -- cái gọi là "chia để trị". Vì thế, ngay cả các triều đình hoàng đế cũng đã bài bản dựng lên hơn hai thừa tướng, nhằm nỗ lực tạo ra cạnh tranh chính trị để tránh sự độc quyền với hậu quả là tham nhũng trầm trọng.

Khi chúng ta kiểm tra lại lịch sử, thì tỷ lệ tham nhũng ở Trung Quốc cổ thời luôn luôn bắt đầu từ sự mất cân bằng quyền lực của các vị thừa tướng này, do đó tham nhũng lây lan từ trên xuống dưới và gia tăng hàng ngày cho đến khi cuối cùng bị mất hoàn toàn sự kiểm soát.

Tình trạng Trung Quốc ngày nay chính xác là sự tham nhũng toàn diện này, nó không còn kiểm soát được. Hệ thống chính trị Trung Quốc hiện nay chính xác là theo Caesar chủ nghĩa (như Cesar hay Giáo Hoàng) tóm thu thế quyền và giáo quyền vào trong tay, với một hệ thống pháp luật không được kiểm soát. Vậy thì trong tình huống này, chúng ta thấy việc bãi bỏ các cơ chế giám sát chéo, việc bãi bỏ cơ quan bài trừ tham nhũng, thì nó là chống tham nhũng hay tham nhũng? Nếu chúng ta có trí thông minh IQ bình thường, chúng ta có thể cho ra ngay một nhận xét đúng.

Từ sự thật đơn giản như thế đó, thì tại sao Tập Cận Bình, đã từng khoe với thế giới là đọc rất nhiều sách, và Vương Kỳ Sơn lại không hiểu nó? Nó có lý do đằng sau. Lý do dành cho Tập Cận Bình thì rất là đơn giản. Giống như tất cả chúng ta đã chỉ trích, ông ta muốn đi vào độc tài cá nhân. Cho nên ông cố tập trung vào trong tay tất cả các khía cạnh của quyền lực. Là tư lệnh tối cao của Đảng Cộng Sản, Tập không quen với việc nhìn thấy bất kỳ quyền lực nào khác, kể cả quyền tư pháp, ở thế nằm ngoài quyền lực của ông từ Đảng Cộng Sản.

Hậu quả là, Vương Kỳ Sơn để cho Tập Cận Bình có được những gì ông ta muốn và giúp Tập để tập trung cái quyền tư pháp quan trọng nhất - quyền giám sát và theo dõi các quan chức. Dĩ nhiên họ lấy lý do là vì chiến dịch chống tham nhũng đã không đạt được kết quả như ý muốn, tại vì quyền lực không được tập trung, vì quan chức ngăn chặn lẫn nhau nên phát sinh sự can thiệp và các lý cớ khác. Kết luận là cần phải có sự tập trung quyền lực giám sát các quan chức, vì vậy nên họ đàn áp một cách hiệu quả những quan chức bất tuân không nằm trong phe Tập-Vương. Tập Cận Bình thích thú điều này.

Có một cái nhìn khác cho rằng Vương Kỳ Sơn đã đạt được đầy đủ uy tín khiến cho ông ta được kính trọng hơn so với sếp Tập Cận Bình của ông, điều này làm cho ông Tập Cận Bình ghen tị và thực hiện ý định loại trừ Vuơng. Đây là lý do tại sao chúng ta đã nghe những tin đồn từ vài năm trước đây về việc Vuơng Kỳ Sơn nghỉ hưu năm nay, theo quy định. Trong hai năm qua, Tập Cận Bình nhấn mạnh việc "tuân thủ các quy tắc", trong khi Vuơng Kỳ Sơn cũng công khai nói đùa là sẽ về hưu. Nhưng tất cả chúng ta có thể nói rằng nếu không có Vuơng Kỳ Sơn, Tập Cận Bình có thể sẽ không kết thúc nhiệm kỳ của ông một cách êm thắm.

Cũng không loại trừ trường hợp Vương Kỳ Sơn đã kín đáo làm áp lực để cuối cùng đẩy Tập Cận Bình vào thế phải có những nhượng bộ trước Đại Hội 19 của Đảng CS. Những nhượng bộ này không phải chỉ bằng lời nói, Vuơng sẽ không chấp nhận lời hứa đầu môi. Cho nên đơn giản là họ đã có một sự đồng thuận: anh có độc tài của anh trong khi tôi có độc tài của tôi, anh tóm thu tất cả quyền lực chính trị của Đảng CS và chính quyền TQ, trong khi tôi tóm thu tất cả quyền lực pháp lý. Do đó hai bên đạt được sự cân bằng quyền lực.

Nhưng sự cân bằng này thì tạm thời và cũng rất mong manh. Vì Tập Cận Bình muốn theo chân nhà độc tài Mao Trạch Đông, người không chỉ nắm giữ sự lãnh đạo mà còn tung ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa trong thập niên 1960's, không chỉ Tập giữ vị trí chủ tịch Đảng CS, nhưng ông cũng phải cần có người như Lâm Bưu để nắm quân đội, cùng với bộ trưởng Tạ Phú Trị (Xie Fuzhi) của Công An để có thẩm quyền pháp luật.

Bây giờ Tập Cận Bình đã mất thẩm quyền pháp luật, điều này sẽ làm cho ông ta không thể đạt được lý tưởng của ông là trở thành một Mao Trạch Đông mới. Để đạt được lý tưởng này, Tập sẽ tranh để nắm thẩm quyền pháp luật, và sẽ phải có một cuộc thư hùng với Vuơng Kỳ Sơn. Hai nguời này sẽ diễn cảnh thật ngoài đời trên sân khấu TQ (Chinese reality show) vở tuồng "Xây Nhà Bằng Lá Bài" (House of Cards) cho đến khi một bên khai tử chính trị. Với việc Vương Kỳ Sơn lâu nay đã xây dựng uy tín cho ông ta bằng quyền lực chính trị và pháp luật, và ông sẽ tiếp tục lấn sân thêm ra cũng như tăng cường sức mạnh của mình, cho nên người chiến thắng cuối cùng vẫn chưa thể xác định được.

Khi tình hình quốc tế không có lợi cho chế độ Cộng Sản TQ như hiện nay, thì cuộc chiến này sẽ đến sớm hơn. Tất cả chúng ta có thể chờ đợi và đón xem vở tuồng ngoạn mục này.

http://bit.ly/2l4zAfy











Tuesday, January 17, 2017

Bang giao Mỹ-Trung dưới thời Trump

- Ngụy Kinh Sinh

Đến bây giờ chúng ta biết chắc được một số điều về chính quyền của tổng thống Donald Trump:

1) Ông Donald Trump sẽ là tổng thống kế tiếp của Mỹ, do đó chính sách đối ngoại yếu đuối của chính quyền Obama sẽ kết thúc.

2) Chính sách chủ yếu của ông Trump là điều chỉnh những mối quan hệ thương mại bất hợp lý; trọng tâm của chính sách này là điều chỉnh cái gọi là "thương mại tự do" qua quan hệ "thương mại công bằng".

3) Cái mục tiêu được nhắm tới là quốc gia có thương mại không công bằng lớn nhất - Trung Quốc.

4) Donald Trump sẵn sàng ngưng lại các phương tiện đàm phán đã được sử dụng trong quá khứ, thay vào đó là việc sử dụng sự phong tỏa thị trường, tức một cuộc chiến tranh thương mại, để buộc Trung Quốc và các quốc gia giao thương khác chấp nhận những quy luật của thương mại công bằng.

5) Trong chiến lược quốc tế (của Trump), xu hướng là giảm bớt căng thẳng với Nga, bận tâm vào việc bành truớng của Trung Quốc.

6) Liên minh chặc chẽ với các nước ở châu Á và Ấn Độ để đè bẹp sự bành trướng chiến lược của Trung Quốc, và để đẩy tới hay khích lệ các nước Đông Nam Á đi vào vòng tay của Hoa kỳ.

Trên đây là những gì đang xảy ra ngay cả trước khi ông Donald Trump bước vào Toà Bạch Ốc. Để tóm lược các sự kiện này, chúng ta có thể thấy rằng điểm nhắm chính là chế độ cộng sản tại Trung Quốc. Có hai mục tiêu chính: một là quan hệ mậu dịch Mỹ-Trung, mục tiêu thứ hai là sự kiểm soát biển Hoa Đông và Biển Đông. Ông Trump có cơ hội để chiến thắng cả hai mặt trận này hay không? Hay ông Tập có cơ hội để chiến thắng một cái nào hay không? Chúng ta hãy làm một phân tích sơ khởi.

Về các mối quan hệ mậu dịch Mỹ-Trung, Trump phải điều chỉnh lại. Kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy rằng các cuộc đàm phán với chính quyền Trung Quốc không thể thay đổi được tính lưu manh của họ. Như nhà tranh đấu ôn hoà Mohandas Gandhi có nói, khi một băng cướp có vũ trang đến làng, không có cách nào để thương lượng ngoài việc dùng sức mạnh để đá nó văng ra. Đó là lý do nguời ta cần cảnh sát. Hoa kỳ vì vậy mà làm cảnh sát thế giới.

Vũ khí của Hoa Kỳ là gì? Đó là thị trường Mỹ. Trong quá khứ, Trung Quốc ngăn chặn thị trường của mình, trong khi bán phá giá hàng hóa sang Hoa kỳ, điều này giúp các nhà tư bản trong cả hai nuớc Trung Quốc và Hoa kỳ kiếm được lợi nhuận vuợt bực trong khi Hoa kỳ bị mất rất nhiều công ăn việc làm. Mục tiêu cuối cùng của Trump là sự cân bằng thương mại giữa Trung Quốc và Hoa kỳ, và mở rộng công ăn việc làm ở Mỹ.

Sự tấn công của Trump là gì? Dưới cái tiền đề rằng Trung Quốc lợi dụng thương mại nhưng không có kế hoạch mở cửa thị trường của họ, Trump đang sẵn sàng dẫn đầu để tung ra một cuộc chiến tranh thương mại, đóng cửa thị trường Mỹ và không cho hàng hóa rẻ của Trung Quốc vào Hoa kỳ. Dù TQ có phản ứng bất cứ cách gì thì biện pháp này cũng chiến thắng, mà hậu quả cho Mỹ là sản xuất công nghiệp được hồi phục và công ăn việc làm gia tăng.

Tập Cận Bình sẽ phản ứng ra sao? Qua truyền thông phía Cộng Sản cho thấy quan điểm thông thuờng là chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh thương mại với Hoa kỳ. Họ hy vọng rằng Trump sẽ giống như các tổng thống Hoa Kỳ khác trong quá khứ, tỏ ra cứng rắn trước khi nhậm chức và tuơng nhuợng với các nhà tư bản sau đó. Do đó chiến tranh thương mại chỉ là một sự hù dọa (bluff) và tất cả mọi thứ vẫn sẽ như thường lệ. Không chỉ Đảng CSTQ, mà còn có cả những nhà tư bản Mỹ huởng lợi nhuận khủng, chẳng hạn công ty Boeing cũng nghĩ một cách mơ mộng (fantasy) như vậy.

Thật không may, điều này thực ra là một ảo ảnh (illusion). Chính ông Trump không thiếu gì tiền và nội các của ông ta bị châm biếm như là một sự kết hợp của những nguời giàu và quân nhân, điều này làm cho kế hoạch mua chuộc và kiểm soát lâu nay của Đảng CSTQ và các doanh nghiệp lớn khó mà thực hiện. Vì vậy Tập Cận Bình chỉ có thể chọn chiến tranh thương mại.

Như chúng ta đều biết, trong chiến tranh thương mại ai kiểm soát được thị trường thì người đó sẽ chiến thắng. Giống như một cuộc đấu của những cao thủ cờ tướng (chess masters), kết quả có thể đã được tính toán trước. Như những chiến lược gia cổ thời có nói, để tính được sự chiến thắng, đầu tiên phải bảo đảm chắc rằng mình sẽ chiến thắng sau khi bước vào một cuộc chiến tranh. Trump chỉ bị rắc rối bên trong chứ không phải bên ngoài - để thuyết phục các chính trị gia và các doanh nghiệp đang hỗ trợ ông hiểu được tình hình thì không dễ dàng.

Việc Tập Cận Bình chấp nhận một cuộc chiến thương mại sẽ không kéo dài được lâu, và ông ta chắc chắn sẽ bị đánh bại. Tình trạng thất nghiệp bên trong TQ đang gia tăng, do đó, tình hình chắc chắn là không ổn định. Tại thời điểm này, Tập Cận Bình có thể có hai phản ứng: một là khởi động một cuộc chiến tranh để giảm bớt các xung đột nội bộ; hai là tìm cách để đạt được một thỏa hiệp với Mỹ - tức chấp nhận các nguyên tắc công bằng thương mại và bảo vệ các cơ hội thương mại. Tôi (ông Nguỵ) ước tính rằng Tập Cận Bình sẽ chấp nhận các ý kiến của những diều hâu quân đội TQ để khởi động một cuộc chiến tranh.

Vấn đề ở đây là ông Trump cũng đã dự kiến khả năng này và du nhập một nhóm lớn diều hâu quân sự HK vào nội các ông. Ngoài ra, sau khi nới lỏng căng thẳng trong các các mối quan hệ với Nga, ông sẽ triển khai một số lượng lớn sức mạnh quân sự về khu vực Đông Á. Vậy thì Tập Cận Bình nhắm vào nơi nào để tấn công? Nhật Bản và Nam Hàn là đồng Minh của Mỹ, với các đơn vị đồn trú của Mỹ ở đó, cho nên quân đội Mỹ có bổn phận can thiệp, và Tập Cận Bình sẽ thất bại nếu ông ta bắt đầu chiến tranh ở đó.

Việt Nam và Đài Loan cũng là những khúc xương khó nuốt. Với những lý cớ gượng ép (improper excuses) để khởi động các cuộc tấn công chống họ (VN và ĐL), kèm theo là sự tố cáo của cộng đồng quốc tế và cả đến sự tiếp tay hỗ trợ các nước này, thì sự kéo dài chiến tranh sẽ dẫn đến hỗn loạn ở Trung Quốc. Để ngăn chận Biển Đông với Nhật bản, Nam Hàn và Đài Loan cũng sẽ không được. Vài hòn đảo nhỏ cộng với sức mạnh hải quân và không quân của chế độ CSTQ có thể đủ để đối phó với hải quân và không quân của các nước nhỏ Đông Nam Á, nhưng nó thực sự không có khả năng để chống lại các lực lượng chiến đấu của Mỹ với các tàu sân bay, vì thế các hành động này có thể coi như lấy đá ném vào chân mình.

Duy nhất chỉ có một đối thủ mà TQ có được lý cớ tốt để tấn công và đánh bại là Bắc Triều Tiên. Duới danh nghĩa giải quyết vấn đề vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn, cuộc chiến này sẽ được chấp nhận và thậm chí được hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Không có lý do gì cho Hoa Kỳ, Nhật Bản và Nam Hàn lại ngăn chặn TQ hay ra tay giúp Bắc Hàn. Điều đó sẽ đi ngược lại ý chí của cộng đồng quốc tế và không phải là sự lựa chọn của Hoa Kỳ.

Chỉ có một nước không hài lòng là Nga. Bắc Hàn đã luôn luôn được Nga coi là nơi có thể mở rộng ảnh hưởng. Nhưng về phía Tây của Nga, có vấn nạn NATO, cũng như sự dòm ngó của các nước Đông Âu. Nga không thể giúp Bắc Hàn để tạo ra sự gây hấn với TQ, vì vậy Tập Cận Bình sử dụng sức mạnh quân sự của ông với Bắc Hàn là một lựa chọn có thể xảy ra.

Nhưng Bắc Hàn cũng không phải là dễ nuốt. Có nhiều người chống đối triều đại của gia đình Kim. Nhưng dưới ảnh hưởng của các chính sách ngu dân của Đảng CS, sự chống xâm lăng duới lá cờ ái quốc vẫn là tuyệt vời. Nếu chiến tranh không kết thúc một cách nhanh chóng, nó vẫn có thể gây ra sự bất ổn trong nước và dẫn đến sự sụp đổ của chế độ ở TQ.

Từ sự phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng sự lựa chọn chiến tranh của Tập Cận Bình sẽ cho ra kết quả là hoặc bị đánh bại hoặc bị bế tắc. Vì vậy lựa chọn tốt nhất cho ông là đạt một hiệp định thương mại công bằng với HK, và bắt đầu công cuộc cải cách (reform) chính trị và tư pháp. Bởi vì việc bóp nghẹt chế độ CS không phải là mục tiêu của Donald Trump, cũng không phải là lợi ích của HK. Cái mà Trump muốn là thương mại công bằng với nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.

Cải cách chính trị và tư pháp là lợi ích của TQ. Nếu không có sự bảo vệ quyền con người thì sẽ không có sự gia tăng thu nhập của các tầng lớp lao động, do đó không có sự mở rộng thị trường trong nước ở TQ. Không có cải cách chính trị và tư pháp, sẽ không có sự cải thiện môi trường kinh doanh, do đó đại đa số các doanh nghiệp sẽ tiếp tục chạy trốn khỏi TQ. Không mở cửa thị trường, các doanh nghiệp TQ không thể nhanh chóng du nhập công nghệ và quản trị tân tiến, và sẽ không có khả năng để thích ứng được với sự cạnh tranh trong môi trường thương mại công bằng.

Vì vậy, cho dù ai nắm quyền ở HK, việc nhanh chóng tiến đến một hiệp định thương mại công bằng với HK là lối thoát duy nhất cho TQ.

(http://bit.ly/2ivDQTr)

Lê Minh Nguyên dịch
17/1/2017














Monday, November 21, 2016

Hiện tượng Hùng Cửu Long và vấn đề hoà giải

Hùng Cửu Long (HCL) là công dân Việt Nam đi du lịch qua Mỹ. Trước khi đi anh quảng bá trên trang Facebook của anh là sẽ mặc áo dài đỏ với ngôi sao vàng to (cờ CSVN) trên ngực để đi nhiều thành phố ở Mỹ, hàm ý một sự thách thức rằng với nước Mỹ tự do, tôn trọng quyền bày tỏ, nên anh có thể làm được điều này trong an toàn, không ai dám đụng đến anh. Anh đã làm điều này ở Maryland, Washington DC..., nhưng khi đến vùng Little Saigon ở Nam California sáng hôm Chủ Nhật 20/11/2016 anh đã gặp sự cố.

Còn nhớ năm 1999 ông Trần Trường treo hình Hồ Chí Minh trong tiệm cho thuê băng video của ông ta ở Little Saigon, cư dân của thủ đô tỵ nạn này chẳng ai để ý đến vì nếu ông muốn thờ ông Hồ bên trong tiệm ông thì đó là quyền riêng tư của ông. Nhưng nó trở thành sự cố khi ông gởi faxes đến các hội đoàn và các cơ quan truyền thông người Việt để thách thức. Đó là sự xát muối vào vết thương của cư dân. Thế là biểu tình nổ ra. Lúc ban đầu khi người biểu tình còn ít, có vài vị dân cử lên tiếng bảo vệ quyền bày tỏ của ông ta, nhưng khi con số lên đến vài chục ngàn người thì các vị dân cử đều đứng về phía dân, vì ghế mà họ có là do dân mà ra. Để vừa được lòng dân, vừa bảo vệ hiến pháp (quyền bày tỏ), họ bắt Trần Trường và đóng cửa cơ sở vì tội... sang băng lậu.

Việc Trần Trường hay HCL đã làm là lạm dụng quyền tự do bày tỏ để thách thức và khiêu khích những người tỵ nạn đang sống an bình và không muốn ai khơi dậy lại những vết thương đau do CSVN gây ra cho những người thân thương hay tài sản của họ. Có biết bao nhiêu người đã chết trong tù cải tạo, trên biển cả, bị đày đi vùng kinh tế mới (thực sự là bị tống ra ngoài lề xã hội), bị cướp của, bần cùng vô sản hoá trắng trợn qua các chiến dịch đổi tiền hay đánh tư sản mại bản... Người viết có những đứa học trò ngây thơ dễ thương (con của nghị sĩ VNCH và cũng là lãnh tụ Hoà Hảo Lê Tấn Bửu) bị chết mất xác trên biển không biết nơi nào, những đồng chí, chiến hữu, hay cha anh của những người bạn thân thương bị chết trong tù cải tạo.

Ở Mỹ, ai đó có thể tôn thờ Hitler, nhưng không thể vì vậy mà họ đem các biểu tượng Nazi đến các nơi của người Do Thái để thách thức, nếu họ muốn lạm dụng quyền bày tỏ để khiêu khích thì cộng đồng (Do Thái hay người Mỹ gốc Việt) cũng sẽ sử dụng quyền bày tỏ này để phản ứng lại, tự do-liberty luôn có các giới hạn của nó để xã hội được bảo vệ.

HCL nói rằng anh ta đến Little Saigon để hoà giải, để yêu thương, anh thật là khôi hài và kịch tính. Anh có biết là chuyện hoà giải chỉ có thể xảy ra, như ở Nam Phi chẳng hạn, khi đó là sự thực tâm nhận lỗi và được thể hiện một cách cụ thể bằng luật pháp, định chế và các chính sách của chính quyền. Hoà giải không thể bắt đầu từ nạn nhân xin kẻ tạo nghiệp, hay anh công dân bên thắng cuộc HCL mặc áo của sức mạnh bạo lực đi nói lời đầu môi chót lưỡi.

Cho đến nay, chưa bao giờ, người viết xin nhắc lại là CHƯA BAO GIỜ CSVN có chủ trương hoà giải, họ chỉ chủ trương đại đoàn kết hay hoà hợp, tức là muốn nạn nhân của họ phải thần phục họ, phải "bó thân về với triều đình", phải chấp nhận là thần dân của họ, chung vào rọ của họ, nằm dưới sự lãnh đạo của họ. Họ vẫn nghênh ngang kênh kiệu, cà cuốn cho đến khi sụp đổ dù thế giới đã đổi thay. Họ không bao giờ có được một chính sách bảo hiểm (insurance policy) khi giao thiệp với Mỹ, nếu họ còn đối xử với người Mỹ gốc Việt thiếu sự tôn trọng và sự ngang hàng. Con đường từ Hà Nội đến Washington DC không thể đi tắt (shortcut) loại ra cộng đồng người Mỹ gốc Việt mà không có rủi ro.

Nhưng muốn đi ngang qua cộng đồng người Mỹ gốc Việt thì trước tiên họ phải đi ngang qua người dân trong nước mà lâu nay họ chỉ coi là công cụ, là đồ vật để thao túng và lừa bịp, vì nguời dân là thân nhân, là đồng bào, là dân tộc của người Mỹ gốc Việt. Cho nên, chuyện hoà giải chỉ có thể xảy ra khi chính CSVN biết sai, biết định chế hoá bằng luật pháp cùng các chính sách việc hoà giải, và biết khiêm cung đối thoại ngang hàng với người dân trong nước. Điều này khó xảy ra vì trong hiện tại họ còn chưa hoà giải được với người chết (Nghĩa Trang Biên Hoà) thì làm gì có chuyện hoà giải với người sống ở VN!

Người CS và thần dân của họ chỉ muốn lợi dụng nước Mỹ tự do, chỉ muốn đi trên con đường một chiều để thủ lợi chính trị, không có tư tưởng công lý (a sense of fairness) trong các mối tương quan. Facebooker Huỳnh Ngọc Chênh trong nước đã chỉ ra điều này khi viết rằng:

"Tui có ý kiến, nếu bạn Hùng trách móc gì với chuyện vừa xảy ra ở Bolsa thì Hùng nên về chợ Bến Thành Sài Gòn, mặc áo dài vàng ba sọc đỏ, tiếp xúc với mọi người làm chuyện hòa giải để đối chứng.

Chắc chắn, Hùng không bị quần chúng tự phát nào hành hung mà bị chính an ninh giả danh côn đồ đánh cho bể đầu, toe máu và ngay sau đó cảnh sát sẽ ào đến đánh bồi thêm vài đạp rồi khiêng vứt lên xe đưa về đồn.

Mấy ngày sau, nếu may mắn không tự tử trong đồn, Hùng có thể được ra tòa công khai (nhưng không có người dự) với bất cứ tội danh nào công an muốn: hoặc gây rối trật tự, hoặc chống lại người thi hành công vụ, hoặc lợi dụng quyền tự do dân chủ, hoặc tuyên truyền chống chế độ, và nặng nhất là âm mưu lật đổ chính quyền.

Bạn Hùng áo dài của tui không tin thì cứ về thử nhé." (http://bit.ly/2gbX7fB)

Có ai đó nói rằng những cư dân ở Little Saigon hay ở các nơi khác chống sự xâm lấn của CS vào cộng đồng tỵ nạn là những kẻ chống cộng cực đoan, họ sống trong quá khứ và chết trong quá khứ. Những người này vì thực tế làm ăn hay ca hát ở VN nên đã từ bỏ các giá trị mà họ có được ở Mỹ khi vào VN, hầu làm vừa lòng chính quyền CS. Đáng ra họ nên ngậm miệng ăn tiền và không ai trách họ cả vì ai cũng cần kiếm sống để sinh tồn. Nhưng khi họ theo tiêu chuẩn đôi (double standard) thì họ lại lên tiếng phản bội lại cái căn cước tỵ nạn của họ, phản bội lại cái nguyên nhân ban đầu tại sao họ bỏ VN đến Mỹ, họ lớn tiếng phê bình những người cùng cảnh ngộ với họ là sống trong quá khứ, trong khi lại quỵ luỵ CSVN và không dám có một lời phê bình về sự tàn độc bất nhân của CS. Thay vì làm thinh thì tiếng nói của họ đã làm cho họ lùn hơn những người trong nước như Việt Khang.

Không có chế độ độc tài nào tồn tại mãi mãi, luật của tạo hoá không cho phép CSVN trường trị muôn đời. Tuy hiện nay CSVN đã tiêu diệt hết các đối lập chính trị, nhưng nó cũng không ngăn được sự sụp đổ của chế độ. Rõ ràng là trong Hội Nghị Trung Ương 4 Khoá 12 ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã khẩn trương báo động về hiện tượng tự diễn biến, tự chuyển hoá, tức sự ngã lăn ra chết của Đảng CSVN vì nội bệnh.


Lê Minh Nguyên
21/11/2016




Sunday, November 20, 2016

Bác Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa

cho đến nay đã 46 năm cùng tranh đấu

Cuối thập niên 1960s tôi học trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa ở Châu Đốc, hết năm Đệ Nhị (lớp 11 ngày hôm nay) đi thi Tú Tài I ở Long Xuyên. Kết quả thi chỉ niêm yết ở trường trung học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên nên khi có kết quả, tôi phải đi từ quê nhà (cù lao Long Khánh trên giòng Tiền Giang, giữa quận Hồng Ngự và Tân Châu) đến Long Xuyên để dò. Khi biết mình đậu cũng cao, tôi bỏ đi lên Saigon, không về quê thông báo. Ba tôi ở nhà ra đứng ngoài đường chờ đợi (lúc đó không có phone để liên lạc) cho đến chạng vạng không thấy tôi về, ông buồn bã đi vô nhà nói với Má tôi rằng chắc tôi đã thi rớt và trốn không về nhà.

Tới Saigon tôi đến các trường trung học Petrus Ký và Chu Văn An để tìm hiểu và xin chuyển trường. Petrus Ký rất mạnh các ban A và C, Chu Văn An rất mạnh ban B (Toán) nên tôi xin vào Chu Văn An mà hiệu trưởng lúc đó là ông Nguyễn Xuân Quế vì tôi đi ban B.

Vào học Đệ Nhất (lớp 12 ngày nay) ở Chu Văn An, tôi bắt đầu đi tìm những nhà tranh đấu và các đoàn thể chính trị. Khi còn ở Châu Đốc tôi có nghe nói ông Hồ Hữu Tường là một nhân tài nên tôi tìm biết nhà ông ở Đa Kao, Phú Nhuận và đi dự những buổi ông thuyết trình. Nhưng sau một vài lần tôi cảm thấy không hợp cho một người trẻ ở độ tuổi 17 vì lúc đó ông nói về mua đất ở Biên Hoà để xây dựng nghĩa trang.

Tình cờ trên một chuyến xe đò đi miền tây có ai đó cho tôi xem tờ báo Cấp Tiến, rồi sau đó tôi có dịp đọc nguyệt san Cấp Tiến, thấy chủ trương và nhân sự có tầng số phù hợp với ước vọng của mình, với các GS Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Văn Ngôn... Tôi ghi xuống địa chỉ của Cấp Tiến ở đường Phan Đình Phùng và đạp xe đạp đến đó.

Dựng xe ở gốc cây to bên ngoài, tôi bước vào toà soạn ngập ngừng hỏi cô thư ký gần cửa về Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến. Cô cho biết bên ngoài là toà soạn của báo, còn PTQGCT là bên trong và chỉ tôi đi vào. Ba người làm việc thường trực và thoát ly cho PTQGCT (ngoại vi của đảng Tân Đại Việt) là GS Nguyễn Đình Huy hay Việt Huy ngồi bàn đầu, ông Minh Nhật Trương Dụng Khả (chú của ông Trương Tử Anh sáng lập Đại Việt Quốc Dân Đảng) ngồi bàn giữa và ông Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa ngồi bàn trong cùng.

Bác Hoài Sơn, năm nay đã 93 tuổi, và GS Nguyễn Văn Ngôn trong nước vẫn còn đây, những người khác thì đã nằm xuống.

Bác Hoài Sơn là người đầu tiên tiếp tôi (1970), giải thích cho tôi về chính trị và đảng phái, trao cho tôi tài liệu và bảo về nhà đọc và suy nghĩ cho kỹ trước khi quyết định tham gia, vì việc tham gia đảng phái chính trị khá quan trọng, tương tự như chuyện lập gia đình, đôi khi mình phải ở với nó suốt đời.

Bác Hoài Sơn bắt đầu tham gia tranh đấu năm 1945, đến năm 1971 là 26 năm. Bài thơ có tên "Thiên Đàng" Bác làm năm 1971 mà khi đó ở trụ sở Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến tôi rất thích thú đọc, nói lên cái nghèo mà vui của người đi tranh đấu, xin ghi lại nơi đây.

Thiên Đàng

Sau hai mươi sáu năm dài tranh đấu
Tôi được gì? - Một vợ, bốn con yêu!
Với con chó Mina chuyên sủa gẫu
Và một xe gắn máy đã hư nhiều

Chỉ có thế mà thôi, nhưng quá đủ:
Vợ yêu chồng, con rất đổi thương cha
Đến con chó cũng trung thành với chủ
Ngày như đêm quấn quít mãi bên nhà

Chỉ có chiếc xe tàn gây khổ mãi
Hết nghẹt lò đến gãy bạt long dên
Cân vít lửa, đạp hoài không nổ máy
Siết xong vòi, lại bể dĩa tuông sên

Nhưng hư đấy rồi sửa tu cũng chóng
Cởi ra đường là rất đổi nên oai:
Con toạ trước che mình như phủ lọng
Vợ ngồi sau choàng bụng tựa mang đai

Ngày hai bửa chỉ cá kho rau luộc
Không đổi dời, mà lua vẫn quên thôi
Cần chi nữa, đến bữa ăn, miễn được
Nhìn con yêu, ngắm vợ, đã ngon rồi

Nếu chỉ đứng bên ngoài nhìn cuộc sống
Thì cõi đời là địa ngục trần gian
Nhưng chấp nhận vào trong tìm Lẽ Sống
Thì nhân gian quả thật cõi Thiên Đàng

Hoài Sơn
Vũng Tàu, 1971

Sau 1975 bác Hoài Sơn bị đi tù mười mấy năm trời, trong tù Bác nhận hết tội về phần mình để che chở cho anh em. Bác qua Mỹ theo diện HO và vẫn sát cánh cùng anh em để tranh đấu.

Sau 46 năm dài biết Bác và cùng nhau tranh đấu trong một tổ chức, tôi và các thế hệ mai sau cố gắng tiếp nối công trình còn dang dỡ của các bậc đàn anh đi trước, đó là làm sao xây dựng được một nền móng vững chắc cho chế độ Dân Chủ Pháp Trị ở Việt Nam.

Lê Minh Nguyên
20/11/2016

PS: Hình chụp hôm nay 20/11/2016